Thứ 6, ngày 23 tháng 6 năm 2017
THỐNG KÊ TRUY CẬP
NguoiTruyCapTổng số người truy cập:
895242
Hinh Anh
Hinh Anh
Hinh Anh
Hinh Anh
Hinh Anh
Hinh Anh
Hinh Anh
Hinh Anh
Hinh Anh
BẢN TIN VB LUẬT HÀNG TUẦN

Nhằm bồi dưỡng, phát huy lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, niềm tự hào, ý chí tự cường của dân tộc và khẳng định những thành tựu vĩ đại của dân tộc ta đã đạt được trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc..., ngày 02/07/2014, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1063/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch tổ chức kỷ niệm các ngày lễ lớn trong 02 năm 2014 - 2015. Theo Kế hoạch, các ngày lễ lớn do Ban Tổ chức cấp quốc gia chủ trì tổ chức bao gồm: Lễ kỷ niệm 60 năm Ngày Chiến thắng Điện Biên Phủ; 40 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước; Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh và Lễ kỷ niệm 70 năm Ngày Cách mạng Tháng Tám và Ngày Quốc khánh. Các ngày lễ lớn do các Bộ chủ trì tổ chức, chủ trì xây dựng Đề án, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong 02 năm 2014 - 2015 gồm: Lễ kỷ niệm 60 năm Ngày ký Hiệp định Giơ-ne-vơ về hòa bình ở Việt Nam, Đông Dương (20/07/1954 - 20/07/2014); Kỷ niệm 70 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944 - 22/12/2014) và 25 năm Ngày hội quốc phòng toàn dân (22/12/1989 - 22/12/2014); Lễ kỷ niệm 70 năm Ngày thành lập Công an nhân dân (19/08/1945 - 19/08/2015) và 10 năm Ngầy hội toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc (19/08/2005 - 19/08/2015). Kinh phí tổ chức các hoạt động kỷ niệm các ngày lễ lớn trong 02 năm 2014 - 2015 được đảm bảo từ ngân sách Nhà nước (thực hiện theo phân cấp ngân sách hiện hành) và nguồn kinh phí xã hội hóa. Các Bộ, ban, ngành, đoàn thể Trung ương và các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm chỉ đạo chỉnh trang các khu tưởng niệm, di tích lịch sử cách mạng, nghĩa trang liệt sĩ; phát động phong trào thi đua yêu nước, lập thành tích chào mừng các ngày lễ lớn và tổ chức các hoạt động thiết thực chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng và đối tượng chính sách... Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.

Các nội dung cần lấy ý kiến gồm: chính sách, pháp luật về lao động liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động, người sử dụng lao động trong quan hệ lao động; các biện pháp phòng ngừa và giải quyết tranh chấp lao động và báo cáo thực hiện các Công ước của Tổ chức Lao động quốc tế đã được nước Việt Nam phê chuẩn. Đây là nội dung tại Nghị định 53/2014/NĐ-CP quy định việc cơ quan quản lý nhà nước lấy ý kiến tổ chức đại diện người lao động, tổ chức đại diện người sử dụng lao động trong việc xây dựng chính sách, pháp luật về lao động và những vấn đề về quan hệ lao động. Theo đó, việc lấy ý kiến trong việc xây dựng chính sách, pháp luật về lao động, quan hệ lao động phải tuân thủ pháp luật, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động, người sử dụng lao động. Việc lấy ý kiến được thực hiện qua các hình thức lấy ý kiến bằng văn bản; thông qua ban soạn thảo mà đại diện người lao động, tổ chức đại diện người sử dụng lao động tham gia; thông qua các cuộc họp, hội thảo, diễn đàn, hội nghị tham vấn. Quy định có hiệu lực từ ngày 15-7.

Ngày 15/05/2014, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 759/2014/UBTVQH13 quy định chi tiết về hoạt động tiếp công dân của các cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp. Theo đó, từ ngày 1/7, trường hợp công dân yêu cầu gặp đại biểu Quốc hội để trình bày khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh thì đại biểu Quốc hội có trách nhiệm sắp xếp thời gian tiếp công dân; trường hợp chưa thể tiếp công dân được thì đại biểu Quốc hội yêu cầu Văn phòng phục vụ Đoàn đại biểu Quốc hội cử người nhận đơn hoặc hẹn tiếp công dân vào thời gian thích hợp.Việc tiếp công dân của đại biểu Quốc hội được thực hiện tại trụ sở tiếp công dân tỉnh hoặc nơi do Đoàn đại biểu Quốc hội bố trí. Đại biểu Quốc hội phải thực hiện việc tiếp công dân theo lịch đã được công bố; trường hợp không thể tham gia tiếp công dân theo lịch, đại biểu Quốc hội có trách nhiệm báo cáo với Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội để điều chỉnh lịch; đồng thời dự kiến thời gian cụ thể thực hiện việc tiếp công dân.

Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 57/2014 /TT-BTC ngày 6 tháng 5 năm 2014 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 141/2011/TT-BTC quy định về chế độ thanh toán tiền nghỉ phép hàng năm đối với cán bộ, công chức, viên chức, lao động hợp đồng làm việc trong các cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập. Đồng thời cũng quy định đối với cán bộ, công chức đang công tác tại vùng sâu, vùng xa, núi cao, hải đảo có hệ số phụ cấp khu vực từ mức 0,5 trở lên nếu có yêu cầu, được gộp số ngày nghỉ của hai năm để nghỉ một lần; nếu nghỉ gộp ba năm một lần thì phải được người sử dụng lao động đồng ý và được thanh toán tiền nghỉ phép năm theo quy định. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2014

Liên Bộ GD và ĐT, Tài chính, LĐ-TB và XH đã ban hành Thông tư liên tịch 20/2014/TTLT-BGDĐT-BTC-BLĐTBXH hướng dẫn về miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập quy định : + Những đối tượng không phải đóng học phí bao gồm: học sinh tiểu học trường công lập; học sinh, sinh viên ngành sư phạm và người theo học các khóa đào tạo nghiệp vụ sư phạm để đạt chuẩn trình độ đào tạo theo quy định. + Những đối tượng được miễn học phí bao gồm: người có công và thân nhân của người có công với cách mạng; Anh hùng LLVT, thương, bệnh binh; con của người hoạt động cách mạng; trẻ mồ côi; người tàn tật, khuyết tật thuộc hộ cận nghèo; trẻ bị bỏ rơi; trẻ thuộc hộ nghèo; con của hạ sĩ quan, binh sĩ chiến sĩ trong LLVTND… Ngoài ra, Thông tư cũng quy định các đối tượng được giảm 50 đến 70% học phí và các đối tượng khác được hỗ trợ chi phí học tập. Quy định có hiệu lực thi hành từ ngày 15/72014.

Theo Nghị định số 64/2014/NĐ-CP ngày 26/06/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tiếp công dân, người đứng đầu cơ quan thuộc Chính phủ, đơn vị sự nghiệp công lập phải trực tiếp thực hiện việc tiếp công dân ít nhất 01 ngày/tháng tại địa điểm tiếp công dân của cơ quan, đơn vị mình và phải công khai về lịch tiếp công dân, thành phần tham dự, dự kiến nội dung tiếp công dân của các buổi tiếp công dân định kỳ tại trụ sở cơ quan, đơn vị, địa điểm tiếp công dân và trên trang thông tin của cơ quan, đơn vị (nếu có). Ngoài việc tiếp công dân ít nhất 01 ngày trong 01 tháng, Chính phủ cũng yêu cầu người đứng đầu cơ quan thuộc Chính phủ, đơn vị sự nghiệp công lập trực tiếp thực hiện tiếp công dân đột xuất đối với những vụ việc gay gắt, phức tạp, có nhiều người tham gia, liên quan đến trách nhiệm của nhiều cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc ý kiến của các đơn vị khác nhau và những vụ việc nếu không chỉ đạo, xem xét kịp thời có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng hoặc có thể dẫn đến hủy hoại tài sản của Nhà nước, tập thể, xâm hại đến tính mạng, tài sản của nhân dân, ảnh hưởng đến an ninh, chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Bên cạnh đó, Nghị định cũng quy định chi tiết về cơ cấu, tổ chức của Ban Tiếp công dân các cấp. Theo đó, Ban Tiếp công dân Trung ương bao gồm Trưởng ban, các Phó Trưởng ban và công chức làm công tác tiếp công dân, được tổ chức thành các phòng nghiệp vụ để thực hiện việc tiếp công dân, xử lý đơn, theo dõi, đôn đốc và tổng hợp công tác tiếp công dân... Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/08/2014.

Theo Quyết định số 1049/QĐ-TTg ngày 26/06/2014 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Danh mục các đơn vị hành chính thuộc vùng khó khăn, giai đoạn 2014 - 2015, cả nước ta có 3.815 xã khó khăn thuộc 53 tỉnh, thành phố trên cả nước, giảm 373 xã so với trước đây (theo quy định cũ là 4.188 xã). Trong đó, Thanh Hóa có số xã thuộc vùng khó khăn lớn nhất - 220 xã thuộc 22 huyện; sau đó là Nghệ An, Hà Giang, và Cao Bằng với 174, 172 và 164 xã; tỉnh Cần Thơ và Hải Dương có số xã khó khăn tương đối thấp - 01 xã/mỗi tỉnh; Hà Nội có 09 xã khó khăn thuộc các huyện của Hà Tây cũ (Ba Vì, Quốc Oai và Mỹ Đức)... Danh mục này đồng thời là căn cứ thực hiện chế độ, chính sách đặc thù để phát triển kinh tế - xã hội, giảm nghèo bền vững, nâng cao đời sống tinh thần và vật chất cho người dân; giảm sự chênh lệch về trình độ phát triển giữa các vùng trong cả nước, đảm bảo quốc phòng và an ninh. Quyết định này thay thế Quyết định số 30/2007/QĐ-TTg ngày 05/03/2007 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 26/06/2014.

Đây là một trong những tiêu chuẩn đối với danh hiệu Nghệ nhân ưu tú quy định tại Nghị định số 62/2014/NĐ-CP ngày 25/06/2014 của Chính phủ quy định về xét tặng danh hiệu “Nghệ nhân nhân dân”, “Nghệ nhân ưu tú” trong lĩnh vực di sản văn hóa phi vật thể cho người đang nắm giữ, truyền dạy và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể thuộc các loại hình: Tiếng nói, chữ viết; Ngữ văn dân gian; Nghệ thuật trình diễn dân gian; Tập quán xã hội và tín ngưỡng; Lễ hội truyền thống; Tri thức dân gian. Theo đó, ngoài việc phải có thời gian hoạt động trong nghề từ 15 năm trở lên, để được xét tặng danh hiệu Nghệ nhân ưu tú, công dân Việt Nam còn phải đáp ứng một số tiêu chí khác như: Nắm giữ kỹ năng, bí quyết thực hành di sản văn hóa phi vật thể, có thành tích, giải thưởng, sản phẩm tinh thần hoặc vật chất có giá trị về lịch sử, văn hóa, khoa học, nghệ thuật, thẩm mỹ, kỹ thuật; đào tạo được cá nhân đang tham gia bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể; có phẩm chất đạo đức tốt, gương mẫu trong cuộc sống; tâm huyết với nghề và chấp hành tốt các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.. Tương tự đối với những cá nhân muốn xét tặng danh hiệu Nghệ nhân nhân dân, phải nắm giữ kỹ năng, bí quyết thực hành di sản văn hóa phi vật thể, có thành tích, giải thưởng, sản phẩm tinh thần hoặc vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, nghệ thuật, thẩm mỹ, kỹ thuật... như đối với Nghệ nhân ưu tú; đặc biệt, phải có thời gian hoạt động trong nghề tối thiểu là 20 năm và đã được phong tặng danh hiệu Nghệ nhân ưu tú Nghệ nhân nhân dân và nghệ nhân ưu tú được nhận Huy hiệu, Giấy chứng nhận và tiền thưởng đối với từng danh hiệu và trợ cấp sinh hoạt hàng tháng theo quy định của pháp luật (đối với những nghệ nhân nhân dân, nghệ nhân ưu tú có thu nhập thấp, hoàn cảnh khó khăn). Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 07/08/2014.

Cụ thể, theo quy định của Nghị định này, trong quá trình thực hiện dự án, nếu vì lý do khách quan không thể tiếp tục thực hiện dự án trên đất đã được Nhà nước cho thuê đất thì cơ sở thực hiện xã hội hóa được phép chuyển nhượng dự án này theo pháp luật về kinh doanh bất động sản nếu được UBND cấp tỉnh chấp thuận chủ trương chuyển nhượng dự án bằng văn bản. Người nhận chuyển nhượng phải có trách nhiệm tiếp tục thực hiện dự án xã hội hóa theo đúng mục tiêu và mục đích sử dụng đất của dự án. Tài sản trên đất đối với trường hợp dự án được miễn toàn bộ tiền thuê đất hoặc trong trường hợp thuê đất nộp tiền thuê hàng năm; tài sản trên đất và toàn bộ giá trị quyền sử dụng đất trong trường hợp dự án phải nộp toàn bộ tiền thuê đất; tài sản trên đất và một phần giá trị quyền sử dụng đất tương ứng với phần tiền thuê đất đã nộp trong trường hợp dự án được giảm một phần tiền thuê đất… do hai bên thỏa thuậ n. Ngoài ra, Nghị định cũng bổ sung thêm lĩnh vực giám định tư pháp là một trong những lĩnh vực xã hội hóa, bên cạnh giáo dục - đào tạo, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể dục thể thao và môi trường. Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/08/2014.

Ngày 20/06/2014, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 17/CT-TTg về một số biện pháp chấn chỉnh tình trạng lạm dụng yêu cầu nộp bản sao có chứng thực đối với giấy tờ, văn bản khi thực hiện thủ tục hành chính, không cho phép các Bộ, ngành và đơn vị liên quan yêu cầu cá nhân, tổ chức trực tiếp thực hiện thủ tục hành chính (TTHC) xuất trình bản chính để đối chiếu khi đã nộp bản sao từ sổ gốc, bản sao có chứng thực. Đối với cá nhân, tổ chức nộp bản sao không có chứng thực nhưng có xuất trình kèm bản chính, công chức, viên chức tiếp nhận hồ sơ không được yêu cầu nộp thêm bản sao có chứng thực mà phải tự kiểm tra, đối chiếu và chịu trách nhiệm về tính chính xác của bản sao so với bản chính. Bên cạnh đó, Thủ tướng Chính phủ cũng chỉ thị, trước ngày 31/03/2015, phải hoàn thành sửa đổi, bố sung TTHC theo hướng cho phép cá nhân, tổ chức trực tiếp thực hiện TTHC tại cơ quan, tổ chức được lựa chọn nộp bản sao từ sổ gốc, bản sao có chứng thực hoặc nộp bản sao xuất trình kèm bản chính để đối chiếu. Đối với UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Thủ tướng nhấn mạnh, cần tăng cường kiểm tra cách thức tổ chức thực hiện cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông” tại cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương; chấn chỉnh kịp thời tình trạng lạm dụng yêu cầu nộp bản sao có chứng thực giấy tờ, văn bản trái với quy định của pháp luật; bố trí đủ nguồn nhân lực, cơ sở vật chất đáp ứng yêu cầu sao giấy tờ, văn bản của cá nhân, tổ chức khi thực hiện TTHC. Đồng thời, phải thường xuyên quan tâm công tác bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, giáo dục ý thức, trách nhiệm của công chức, viên chức trực tiếp tiếp nhận hồ sơ, giải quyết TTHC... Đây là chủ chương mới của Chính phủ, được quy định tại Nghị định số 59/2014/NĐ-CP ngày 16/06/2014 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 69/2008/NĐ-CP ngày 30/05/2008 của Chính phủ về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường. Cụ thể, theo quy định của Nghị định này, trong quá trình thực hiện dự án, nếu vì lý do khách quan không thể tiếp tục thực hiện dự án trên đất đã được Nhà nước cho thuê đất thì cơ sở thực hiện xã hội hóa được phép chuyển nhượng dự án này theo pháp luật về kinh doanh bất động sản nếu được UBND cấp tỉnh chấp thuận chủ trương chuyển nhượng dự án bằng văn bản. Người nhận chuyển nhượng phải có trách nhiệm tiếp tục thực hiện dự án xã hội hóa theo đúng mục tiêu và mục đích sử dụng đất của dự án. Tài sản trên đất đối với trường hợp dự án được miễn toàn bộ tiền thuê đất hoặc trong trường hợp thuê đất nộp tiền thuê hàng năm; tài sản trên đất và toàn bộ giá trị quyền sử dụng đất trong trường hợp dự án phải nộp toàn bộ tiền thuê đất; tài sản trên đất và một phần giá trị quyền sử dụng đất tương ứng với phần tiền thuê đất đã nộp trong trường hợp dự án được giảm một phần tiền thuê đất… do hai bên thỏa thuậ n. Ngoài ra, Nghị định cũng bổ sung thêm lĩnh vực giám định tư pháp là một trong những lĩnh vực xã hội hóa, bên cạnh giáo dục - đào tạo, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể dục thể thao và môi trường. Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/08/2014.

Ngày 30/05/2014, Liên bộ Tài chính, Nội vụ đã ban hành Thông tư liên tịch số 71/2014/TTLT-BTC-BNV quy định chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng kinh phí quản lý hành chính đối với các cơ quan Nhà nước, quy định nguồn kinh phí quản lý hành chính giao để thực hiện chế độ tự chủ được đảm bảo từ ngân sách Nhà nước; các khoản phí, lệ phí được để lại theo chế độ quy định và các khoản thu hợp pháp khác theo quy định của pháp luật. Cơ quan Nhà nước trực tiếp sử dụng kinh phí quản lý hành chính do ngân sách Nhà nước cấp, có tài khoản và con dấu riêng được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giao biên chế và kinh phí quản lý hành chính thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chủ tịch nước; Tòa án nhân dân các cấp, Viện kiểm sát nhân dân các cấp và UBND xã, phường, thị trấn... được tự quyết định bố trí số kinh phí được giao thực hiện chế độ tự chủ vào các mục chi cho phù hợp, được quyền điều chỉnh giữa các mục chi nếu xét thấy cần thiết để hoàn thành nhiệm vụ, bảo đảm tiết kiệm và có hiệu quả (trừ kinh phí thực hiện hoạt động nghiệp vụ đặc thù thường xuyên; kinh phí mua sắm, sửa chữa thường xuyên); được quyết định mức chi cho từng nội dung công việc phù hợp với đặc thù của cơ quan nhưng không được vượt quá chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi hiện hành do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định và được quyết định sử dụng toàn bộ kinh phí tiết kiệm được để bổ sung thu nhập cho cán bộ, công chức, người lao động; chi khen thưởng định kỳ, đột xuất cho tập thể, cá nhân theo kết quả công việc và thành tích đóng góp; chi cho các hoạt động phúc lợi tập thể và trích lập quỹ dự phòng để ổn định thu nhập cho cán bộ, công chức... Bên cạnh đó, Thông tư cũng quy định chi tiết các trường hợp điều chỉnh kinh phí quản lý hành chính được giao thực hiện chế độ tự chủ. Theo đó, kinh phí quản lý hành chính giao thực hiện chế độ tự chủ được điều chỉnh khi điều chỉnh biên chế công chức theo quy định tại Điều 11 Nghị định số 21/2010/NĐ-CP ngày 08/03/2010 và Khoản 2 Điều 9 Nghị định số 36/2013/NĐ-CP ngày 22/04/2013 hoặc khi Nhà nước thay đổi chính sách tiền lương, thay đổi định mức phân bổ dự toán ngân sách Nhà nước, điều chỉnh tỷ lệ phân bổ ngân sách Nhà nước cho lĩnh vực quản lý hành chính... Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 30/05/2014.

Theo Pháp lệnh 03/2012/UBTVQH13 về pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật được Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành ngày 16/04/2012 thì pháp điển là việc cơ quan Nhà nước rà soát, tập hợp, sắp xếp các quy phạm pháp luật đang còn hiệu lực trong các văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan Nhà nước ở trung ương ban hành (trừ Hiến pháp) để xây dựng Bộ pháp điển; chủ đề là bộ cấu thành của Bộ pháp điển, chứa đựng quy phạm pháp luật điều chỉnh các nhóm quan hệ xã hội nhất định được xác định theo lĩnh vực và đề mục là bộ phận cấu thành chủ đề, chứa đựng quy phạm pháp luật điều chỉnh một nhóm quan hệ xã hội nhất định. Dựa trên tinh thần đó, ngày 06/06/2014, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 843/QĐ-TTg phê duyệt Danh mục các đề mục trong mỗi chủ đề và phân công cơ quan thực hiện pháp điển theo các đề mục. Theo Quyết định này, Bộ pháp điển gồm 45 chủ đề như: An ninh quốc gia; Bảo hiểm; Bưu chính, viễn thông; Bổ trợ tư pháp; Cán bộ, công chức, viên chức; Chính sách xã hội; Công nghiệp; Dân số, trẻ em, gia đình, bình đẳng giới; Dân sự; Đất đai; Giáo dục, đào tạo; Giao thông, vận tải; Hành chính tư pháp… Trong đó, mỗi chủ đề bao gồm các đề mục khác nhau và được phân công cho các cơ quan Nhà nước có liên quan chủ trì thực hiện. Cụ thể như: Ở chủ đề Bảo hiểm, đề mục Bảo hiểm xã hội do Bộ Lao động - Thương binh và xã hội chủ trì; đề mục Bảo hiểm y tế do Bộ Y tế chủ trì và đề mục Kinh doanh bảo hiểm do Bộ Tài chính chủ trì; ở chủ đề Chính sách xã hội, các đề mục Chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội; Người cao tuổi; Người khuyết tật; Phòng, chống mại dâm; Ưu đãi người có công với cách mạng đều do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì; ở chủ đề Doanh nghiệp, hợp tác xã, các đề mục Doanh nghiệp; Hợp tác xã; Tổ chức và hoạt động của tổ hợp tác do Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì; riêng đề mục Hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp do Bộ Tư pháp chủ trì. Ở chủ đề Tài chính, các đề mục Giá; Hải quan; Ngân sách Nhà nước; Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí đều do Bộ Tài chính chủ trì; ở chủ đề Thi hành án, đề mục Thi hành án dân sự; Thi hành án hình sự do Bộ Công an chủ trì; Đặc xá; Tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại thực hiện thí điểm tại một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương do Bộ Tư pháp chủ trì… Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.

Ngày 30/05/2014, Liên bộ Giáo dục và Đào tạo, Tài chính, Lao động Thương binh và Xã hội đã ban hành Thông tư liên tịch 20/2014/TTLT-BGDĐT-BTC-BLĐTBXH của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tài chính, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội về việc hướng dẫn một số điều của Nghị định 49/2010/NĐ-CP ngày 14/05/2010 của Chính phủ quy định về miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập và cơ chế thu, sử dụng học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân từ năm học 2010-2011 đến năm học 2014-2015 và Nghị định 74/2013/NĐ-CP ngày 15/07/2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 49/2010/NĐ-CP. Trên tinh thần của Nghị định số 74/2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định Nhà nước thực hiện cấp bù học phí trực tiếp cho các cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học công lập có đối tượng thuộc diện được miễn, giảm học phí, Thông tư này hướng dẫn cha mẹ (hoặc người giám hộ) trẻ em học mẫu giáo và học sinh phổ thông; học sinh, sinh viên, học viên học ở các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học có đơn đề nghị miễn, giảm học phí và hỗ trợ chi phí học tập gửi tới cơ sở giáo dục trong vòng 30 ngày kể từ ngày khai giảng năm học mới. Theo đó, các đối tượng học sinh, sinh viên được miễn giảm học phí sẽ được các cơ sở đào tạo trực tiếp miễn giảm tiền học phí mà không phải làm thủ tục đề nghị hoàn lại tiền học phí từ Phòng Lao động - Thương binh và xã hội như trước đây. Tuy nhiên, Phòng Lao động - Thương binh và xã hội vẫn tiếp tục chi trả tiền miễn, giảm học phí và hỗ trợ chi phí học tập cho năm 2012 - 2013 đối với người học đã nộp đầy đủ hồ sơ trước ngày 31/08/2013. Ngoài ra, Thông tư này còn chỉ rõ: Học sinh, sinh viên, học viên thuộc diện được miễn, giảm học phí nếu đồng thời học ở nhiều cơ sở giáo dục hoặc nhiều khoa, ngành trong cùng một trường thì chỉ được hưởng một chế độ ưu đãi; không áp dụng chế độ ưu đãi về miễn, giảm học phí đối với trường hợp đang hưởng lương và sinh hoạt phí khi đi học, các trường hợp học sau đại học (trừ học sinh, sinh viên và học viên học một trong các chuyên ngành Lao, Phong, Tâm thần, Pháp y, Giải phẫu bệnh tại các cơ sở đào tạo nhân lực y tế công lập). Thông tư liên tịch này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/07/2014; thời điểm thực hiện chính sách miễn, giảm học phí và hỗ trợ chi phí học tập được tính hưởng từ ngày 01/09/2013.

Đây là nội dung mới đáng chú ý tại Nghị định số 56/2014/NĐ-CP ngày 30/05/2014 của Chính phủ, sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 18/2012/NĐ-CP ngày 13/03/2012 của Chính phủ về Quỹ bảo trì đường bộ. Theo đó, thay vì quy định toàn bộ phí sử dụng đường bộ thu được đối với mô tô tại địa phương nào bổ sung vào Quỹ bảo trì đường bộ của địa phương đó như trước đây, Nghị định này chỉ rõ, kể từ ngày 20/08/2014, phần phí này sẽ được nộp vào ngân sách địa phương để đầu tư đường giao thông nông thôn theo Chương trình xây dựng nông thôn mới và bổ sung vào Quỹ địa phương. Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định dành toàn bộ hoặc tỷ lệ phân chia nguồn phí thu được đối với mô tô giữa phần nộp vào ngân sách địa phương để cấp chi cho UBND cấp xã đầu tư đường giao thông nông thôn và phần bổ sung vào Quỹ địa phương. Việc xác định tỷ lệ phân chia này phải cân đối giữa nhu cầu đầu tư đường giao thông nông thôn và yêu cầu về quản lý bảo trì hệ thống đường địa phương; phù hợp với tình hình thu chi ngân sách địa phương; đảm bảo sử dụng nguồn kinh phí hiệu quả. Ngoài ra, cũng tại Nghị định này, Chính phủ giao trách nhiệm cho Bộ Tài chính hướng dẫn chế quản lý thu phí sử dụng đường bộ; quy định cụ thể kỳ kê khai, nộp phí sử dụng đường bộ đối với xe ô tô cho phù hợp đối với đối tượng nộp phí; ban hành mức thu phí sử dụng đường bộ được thu hàng năm trên đầu phương tiện đối với xe ô tô và khung mức phí sử dụng đường bộ được thu hàng năm đối với xe mô tô. Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 20/08/2014.

Theo Quyết định số 34/2014/QĐ-TTg ngày 30/05/2014 của Thủ tướng Chính phủ quy định tiêu chuẩn xã, phường, thị trấn phù hợp với trẻ em, từ ngày 15/07/2014, việc đánh giá xã, phường, thị trấn phù hợp với trẻ em được thực hiện được thực hiện 01 lần/năm vào tháng 11 hàng năm (thời gian đánh giá được tính từ ngày 01/11 của năm trước đến ngày 31/10 của năm sau), thông qua 15 tiêu chí như: Mức độ chỉ đạo, điều hành, của cấp ủy đảng, chính quyền địa phương đến công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em; tỷ lệ trẻ em lao động trong điều kiện nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, lang thang kiếm sống, làm việc xa gia đình; tỷ suất trẻ em bị xâm hại, bạo lực, mua bán, bắt cóc và tỷ lệ trẻ em được khám sức khỏe tổng quát ít nhất 01 lần trong năm... Trong đó, tổng số điểm tối đa cho mỗi tiêu chí dao động từ 50 - 75 điểm, Cụ thể, tổng số điểm tối đa đối với tiêu chí về tỷ lệ trẻ em được khai sinh đúng quy định; tiêu chí về tỷ lệ trẻ em dưới 01 tuổi được tiêm chủng đầy đủ các loại vắc xin thuộc chương trình tiêm chủng mở rộng trong năm đánh giá; tỷ lệ trẻ em được khám sức khỏe tổng quát ít nhất 01 lần trong năm; tỷ lệ trẻ em tốt nghiệp trung học cơ sở hoặc tương đương và tiêu chí về thực hiện các mô hình bảo vệ, chăm sóc trẻ em là 50 điểm; tổng số điểm tối đa đối với các tiêu chí còn lại như: Tỷ suất trẻ em có các vấn đề về xã hội (vi phạm pháp luật, nghiện ma túy); tỷ suất trẻ em bị tai nạn, thương tích; tỷ lệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được trợ giúp, chăm sóc... là 75 điểm Các xã, thị trấn thuộc miền núi, hải đảo; xã đặc biệt khó khăn theo quy định của Thủ tướng Chính phủ nếu đạt từ 650 điểm trở lên sẽ được công nhận đạt tiêu chuẩn xã, phường, thị trấn phù hợp với trẻ em; đối với các phường thuộc các quận của thành phố trực thuộc Trung ương và các xã, thị trấn thuộc huyện của thành phố trực thuộc Trung ương; xã, phường của thành phố thuộc tỉnh hoặc thị xã, thành phố thuộc tỉnh miền núi; thị trấn của huyện thuộc tỉnh khu vực đồng bằng, mức điểm tối thiểu để được công nhận đạt tiêu chuẩn xã, phường, thị trấn phù hợp với trẻ em lần lượt là 850 điểm và 750 điểm. Đặc biệt, việc đánh giá xã, phường, thị trấn đạt tiêu chuẩn xã, phường, thị trấn phù hợp với trẻ em phải bảo đảm dân chủ, công bằng và công khai. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/07/2014.

Ngày 26/05/2014, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã ban hành Thông tư số 03/2014/TT-BKHĐT hướng dẫn về đăng ký hợp tác xã (HTX) và chế độ báo cáo tình hình hoạt động của HTX, trong đó đáng chú ý là quy định về thu hồi Giấy chứng nhận (GCN) đăng ký HTX. Cụ thể, GCN đăng ký HTX có thể bị thu hồi trong các trường hợp sau: Khi HTX giải thể, phá sản, bị hợp nhất, bị sáp nhập và khi phát hiện nội dung kê khai trong hồ sơ đăng ký HTX , hồ sơ đăng ký thay đổi nội dung đăng ký HTX là không trung thực, không chính xác. Trường hợp HTX lợi dụng danh nghĩa HTX để hoạt động trái pháp luật; hoạt động trong các ngành, nghề mà pháp luật cấm; hoạt động trong ngành, nghề kinh doanh có điều kiện mà không đủ điều kiện theo quy định của pháp luật; không đăng ký mã số thuế trong thời hạn 01 năm kể từ khi được cấp GCN đăng ký hoặc chuyển trụ sở chính sang địa phương khác với nơi đăng ký trong thời hạn 01 năm mà không đăng ký hoặc chuyển trụ sở chính sang địa phương khác với nơi đăng ký trong thời hạn 01 năm đăng ký thì cơ quan đăng ký HTX có trách nhiệm thông báo bằng văn bản về hành vi vi phạm và yêu cầu người đại diện theo pháp luật của HTX đến trụ sở của cơ quan đăng ký để giải trình. Sau 10 ngày làm việc, người được yêu cầu không đến hoặc nội dung giải trình không phù hợp thì cơ quan đăng ký HTX ra quyết định thu hồi GCN đăng ký HTX. Cũng theo Thông tư này, trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ khi góp vốn, mua cổ phần, thành lập doanh nghiệp, HTX phải thông báo bằng văn bản theo mẫu theo quy định của pháp luật đến cơ quan đã cấp GCN đăng ký HTX nơi HTX đặt trụ sở chính. Kèm theo thông báo là nghị quyết của đại hội thành viên về việc góp vốn, mua cổ phần và thành lập doanh nghiệp của HTX. Đặc biệt, từ ngày 01/08/2014, HTX được quyền khiếu nại tới cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật hiện hành trong trường hợp không được cấp GCN đăng ký HTX hoặc không được đăng ký thay đổi nội dung đăng ký HTX mà không có văn bản yêu cầu sửa đổi, bổ sung hồ sơ của cơ quan đăng ký HTX. Thông tư này thay thế Thông tư số 05/2005/TT-BKH ngày 15/12/2005 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/08/2014.

Ngày 27/05/2014, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 32/2014/QĐ-TTg về tiêu chí hộ gia đình làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và diêm nghiệp có mức sống trung bình giai đoạn 2014 - 2015, quy định hộ gia đình làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và diêm nghiệp có mức sống trung bình là hộ có thu nhập bình quân đầu người trên chuẩn cận nghèo hiện hành đến dưới 900.000 đồng/người/tháng. Đây đồng thời cũng là căn cứ để xác định đối tượng được ngân sách Nhà nước hỗ trợ đóng bảo hiểm y tế theo pháp luật về bảo hiểm y tế. Như vậy, những đối tượng được công nhận có mức sống trung bình trên cơ sở kết quả rà soát, thẩm định của các địa phương từ năm 2014 sẽ được Nhà nước hỗ trợ đóng bảo hiểm y tế. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/07/2014.

Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết về quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011-2015) của 2 tỉnh Thừa Thiên-Huế và Kon Tum.

Năm 2013, Bộ Tài nguyên và Môi trường xác định mục tiêu cấp giấy chứng nhận cho 85% diện tích các loại đất, tổng khối lượng cần cấp giấy chứng nhận của 22 tỉnh, thành phố trọng điểm khoảng 3.726.000 giấy, với tổng diện tích hơn 2 triệu ha.

Ngày 20 tháng 02 năm 2013, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 342/QĐ-TTg về việc sửa đổi 05 tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới ban hành tại Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16 tháng 4 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ như sau:

Trang trước   Trang sau
BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH
BanDoDH
THÔNG BÁO
VĂN BẢN MỚI BAN HÀNH
VIDEO

HÌNH ẢNH
Thong tin Kon Tum
Thong tin Kon Tum
Thong tin Kon Tum
Thong tin Kon Tum
Thong tin Kon Tum
Trang chủ        |      Ðăng nhập      
 © Trang thông tin điện tử huyện Ðăk Hà - tỉnh Kon Tum
    Cơ quan quả lý và nhập tin: Văn phòng HĐND và UBND huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum. 
    Ðịa chỉ: 42 Hùng Vương, thị trấn Đăk Hà, tỉnh Kon Tum; Điện thoại: (0603)822.114; Fax: (0603)822240; Email: ubnddakha-kontum@chinhphu.vn
    Bản quyền thuộc về UBND huyện Đăk Hà. Ghi rõ nguồn tin "Website Ðăk Hà" hoặc "huyendakha.gov.vn" khi phát hành lại các thông tin từ Trang TTÐT huyện Ðăk Hà
Phát triển: TNC